Chè đắng phân bố ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Cạn, Hòa Bình, mọc rải rác trên núi đá vôi gần bờ khe suối.

Cây chè đắng trưởng thành có thể cao tới 30m, đường kính có cây tới trên 1m. Cành và cuống hoa có lông tơ thưa, phiến lá dài 13 – 16cm, rộng 5 – 6cm, gân bên rõ ở cả 2 mặt. Cụm hoa mọc tụm là dạng chùm giả với trục cụm hoa dài gần 1cm; đài của hoa đực hình đĩa, nhị ngắn hơn cánh hoa.

a.Thời vụ

Tốt nhất là trồng vào vụ đông xuân (tháng 11 – 12) trước khi cây ra lộc, cũng có thể trồng vào vụ thu khi thời tiết mát mẻ, mưa nhiều.

  1. Mật độ

Chè đắng thường trồng khá dày, mật độ phổ biến 3159 – 3600 cây/ha (tương đương khoảng cách 2m × 1,5 – 1,8m), theo nguyên tắc nơi đất tốt, bằng phẳng trồng thưa hơn nơi đất  xấu và dốc. Nên làm thành băng theo đường đồng mức ở những nơi đất có độ dốc trên 15ᵒ.

  1. Đào hố, bón phân

Sau khi phát dọn làm băng (nếu đất dốc) đào các hố vuông 50 – 70cm, sâu 40 – 60cm (nếu đất xấu đào rộng và sâu hơn). Phơi ải đất càng lâu càng tốt.

Bón lót mỗi hố 1 – 10kg phân chuồng hoai mục, trộn lẫn với đất mặt. đất mùn, rồi lấp lại cao hơn mặt đất 5 – 7m.

  1. Trồng cây

Sau khi lấp hố được 15 – 20 ngày khi thời tiết thuận lợi thì bắt đầu trồng. Bới một lỗ ở giữa hố đã lấp, độ lớn đủ để đặt cây, bóc vỏ bầu nhẹ nhàng đặt cây xuống, chọn đất nhỏ cho thêm vào xung quanh bầu rồi lèn chặt đến ngang miệng bầu, xung quanh tạo thành gờ đất nhỏ cao 5 – 10cm để giữ nước, rồi phủ rơm rạ, cỏ khô quanh gốc để giữ ẩm.

  1. Chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh

Cây chè đắng cần nhiều đạm nhất sau đó đến kali, lân. Thời gian bón phân diễn ra vào thời kỳ trước lộc xuân và sau khi hái vụ xuân hè, số lượng bón mỗi lần 0,1 – 0,5kg/cây (tùy theo tuổi cây). Ngoài ra, nên bón bổ sung thêm phân chuồng hoai mục mỗi làm 1 lần vào cuối đông khi cây đã quang gốc.

Để dễ cho việc thu hái khi cây cao 30 – 40cm nên bấm ngọn lần đầu để khống chế ngọn, thúc đẩy mọc chồi nách. Khi cành dài trên 20cm, tiến hành bấm lần 2, nếu tạo hình càng tốt năng suất chè càng cao. Chè đắng thường ít bị sâu bệnh, biện pháp phòng trừ thông thường là vệ sinh vườn sạch sẽ, phun phòng dung dịch Boóc đô 1% hoặc Topsin 50% pha loãng 1000 lần để phòng về nấm.

  1. Công dụng của cây chè đắng

Bộ phân dùng làm thuốc của cây chè đắng là lá bảnh tẻ, được thu hái quanh năm, đem về tãi mỏng, phơi nắng nhẹ hoặc sấy nhỏ lửa cho khô. Khi dùng sao khô cho thơm.

Lá chè đắng có vị rất đắng, sau có cảm giác ngọt ở họng. có tác dụng tăng lực, tiêu viêm giải biểu. Theo kinh nghiệm dân gian, dược liệu được dùng để pha nước uống như trà hàng ngày làm cho người khỏe mạnh, đỡ mệt mỏi khi làm việc trí óc căng thẳng hoặc gặp những bất lợi về thời tiết như trời quá nóng, hay quá lạnh. Gần đây, những công trình nghiên cứu trong nước còn cho thấy lá chè đắng có tác dụng hạ huyết áp nhẹ, giảm cholesterol máu, giải độc, bảo vệ gan, kích thích thần kinh mà không hề làm mất ngủ.

Có thể dùng chè đắng ở những dạng sau:

  • – Lá phơi khô ủ cho mềm rồi cuộn chặt lại như tổ sâu kèn, đóng gói thành túi 100g, 200g hoặc 500g. Ngày dùng 1 – 2g (tương đương với 1 – 2 lá đã cuộn tổ) cho vào nước ấm, đổ nước sôi vào hãm uống. Hâm đến khi nước chè loãng thì thôi.
  • – Lá chè đắng khô đem tán nhỏ, rây bột rồi đóng túi lọc, mỗi túi 0,5g bột. Khi dùng pha với nước sôi như các loại trà túi lọc khác, mỗi lần 1 túi ngày 2 – 3 lần.
  • – Dùng phối hợp, lá chè đắng và lá bạch quả lượng hai thứ bằng nhau, để nguyên củ lá hoặc tán thành bột khô, mỗi lần dùng 1g bột hỗn hợp, pha uống trong ngày như uống trà. Thuốc làm tăng tuần hoàn não, tăng cường trí nhớ.

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *