Cây ngải đen mọc tại miền Tây, chỉ tại vùng núi Cấm và núi Tượng mà thôi, nó chỉ mọc trên núi và trong vườn thuốc mọc tại chân núi và đồng bằng, có thể tác phong của nó tồn tại là nhờ khí khậu và thủy thổ đặc thù của vùng.

  1. Hình dáng cây ngải đen

Cây ngải đen có chiều cao cây khoảng 30 – 40cm, mỗi cây có 1 củ chính và 2 củ nhánh, củ ngải đen chỉ to bằng đốt ngón tay và không thể phát triển to hơn được. Thân cây thấp, lá to bản, có nhiều vân, viền lá màu tím tía, lá mọc thành bẹ. Củ nhìn hình dáng bên ngoài giống củ nghệ, nhưng da sậm hơn và bên trong màu đen tím. Củ ngải đen có vị đắng.

  1. Công dụng theo đông y

Các nghiên cứu cho thấy ngải đen tăng cường sự bài tiết mật, kích thích tiêu hóa, tăng cương lực ống tiêu hóa, kháng khuẩn. Nó được dùng để chế rượu bổ trường sinh gồm các vị: Ngải đen, lô hội, long đảm thảo, đại hoàng, phan hồng hoa và tá dược.

Củ ngải đen có vị đắng, tính cay, mùi hăng, tính ấm, tác dụng hành khí, thông huyết, tiêu thực, mạnh tì, kích thích tiêu hóa, tiêu viêm, tiêu xơ.

Ngải đen là tên gọi của vị thuốc “nga truật”. Trong dân gian tùy từng địa phương, ngải đen còn được gọi theo nhiều tên khác nhau như nghệ tím, ngải tím, ngải xanh, nghệ dăm.

Ngoài ra, ngải đen còn có tác dụng hành khí, phá huyết, thông kinh, tiêu tích, hóa thực nên thường được dùng chữa đau bụng, ăn không tiêu, đầy hơi, bế kinh, tích huyết, hành kinh không thông, nhiều máu cục. Liều dùng 3 – 6g dưới dạng sắc uống hoặc tán bột.

Trong Tây y, chúng được sử dụng trong các đơn thuốc bổ. Mỗi ngày, sử dụng một muỗng cà phê bột ngải đen hòa tan trong nước sẽ giúp ăn nhiều và ngon miệng hơn. Nhưng lưu ý là chỉ sử dụng đối với người không bị viêm loét dạ dày.

  1. Một số bài thuốc từ cây ngải đen

Chữa chứng huyết ứ, hành kinh không thông, có nhiều huyết khối, bế kinh, máu ra kéo dài, đen, đông thành khối nhỏ. Người bệnh thường kèm theo đau bụng trước khi thấy kinh. Dùng 15g ngải đen và 15g ích mẫu sắc uống ngày một thang.

Chữa chứng nôn ở trẻ đang bú: Ngải đen 4g muối ăn 3 hạt, đun với sữa cho sôi chừng 5 phút, hòa tan tý chút ngưu hoàng (lượng bằng hạt gạo). Cách dùng: Chia uống nhiều lần trong ngày.

Chữa cam tích, suy dinh dưỡng, đại tiện phân thối khẳn: Ngải đen 6g, hạt muồn trâu 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

– Ngải đen hoàn: Ngải đen 160g, cốc nha 20g, khiên ngưu (sao) 40g, hạt cau 40g, đăng tâm (bấc lùng) 16g, nam mộc hương 16g, thanh bì 20g, thanh mộc hương 20g, củ gấu 160g, tam lăng 160g, đinh hương 16g. Tất cả các vị tán thành bột mịn, hoàn thành viên. Liều dùng: ngày uống 8 đến 12g với nước sắc gừng (nướng chín). Tác dụng: chữa chứng ăn kém, chậm tiêu, đầy hơi, mệt mỏi, lạnh bụng, đại tiện phân sống, nấm mạn tính đường ruột.

– Ngải đen tán: Ngải đen, bạch chỉ, hồi hương, cam thảo, đương quy, thục địa, bạch thược, xuyên khung. Lượng các vị bằng nhau đều 40g, tán thành bột, hoàn thành viên. Liều dùng uống 8 – 12g. Tác dụng: Bổ khí, dưỡng huyết, trị nhiều bệnh về khí huyết.

– Trị đầy bụng: Ngải đen và tam lăng, mỗi vị 6g, lúa mạch 9g, vỏ quýt 15g sắc uống chung.

– Hành kinh có máu đông thành cục, đau bụng kinh, rong kinh: Lấy ngải đen và cao ích mẫu, mỗi thứ 15g sắc uống mỗi ngày một thang.

– Đau bụng từng cơn do nhiễm khí lạnh: Tán 100g ngải đen và 50g mộc hương thành bột. Mỗi lần uống 2g kèm theo một ít giấm pha loãng.

– Viêm gan vàng da: Ngải đen, nghệ vàng, cỏ cú, quả tắc non, tất cả đều lấy cùng một lượng, phơi khô tán bột, trộn với mật ong làm viên uống ngày 1- 2g.

Chống chỉ định với bệnh viêm loét dạ dày.

Comments

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *